Pegasys tiêm 180mcg/0,5ml Roche điều trị viêm gan B, viêm gan C mãn tính (0,5ml)
Dạng bào chế Hộp
Quy cách Peginterferon Alfa-2A
Thành phần
Thành phần cho 0.5ml| Thông tin thành phần | Nội dung |
| Peginterferon Alfa-2A | 180mcg |
Công dụng
chỉ định
Thuốc Pegasys được chỉ định trong các trường hợp sau:
Nghiên cứu hiệu quả/lâm sàng
Viêm gan BCác nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng Pegasys đã được điều trị hiệu quả trong điều trị bệnh nhân viêm gan B mãn tính, bao gồm cả bệnh nhân có HBeAg dương tính và bệnh nhân có HBeAg âm tính/HBeAAG dương tính.
Các thử nghiệm lâm sàng đã được xác nhận
Trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng, người chọn bệnh nhân viêm gan B mạn tính có virus mạnh được xác định bằng HBV DNA, có nồng độ ALT tăng và có kết quả sinh thiết gan xác định chẩn đoán viêm gan mạn tính. Trong nghiên cứu WV16240 người ta chọn HBeAg dương tính, còn trong nghiên cứu WV16241 người ta chọn bệnh nhân có HBeAg âm tính và Anti - HBe.
Trong cả hai nghiên cứu, thời gian điều trị là 48 tuần cộng với 24 tuần theo dõi không điều trị. Cả hai nghiên cứu đều so sánh nhóm pegasys kết hợp giả dược với nhóm pegasys kết hợp lamivudine và với nhóm dùng lamivudine đơn lẻ. Không có bệnh nhân nhiễm HBV -HIV -HIV trong các thử nghiệm lâm sàng này.
Tỷ lệ đáp ứng ở cuối giai đoạn theo dõi của hai nghiên cứu này được trình bày trong Bảng 1. DNA HBV được đo bằng Test Cobas Amplicor HBV Monitor (giới hạn phát hiện 200 bản sao/ml).
Viêm gan C
Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng Pegasys kết hợp hoặc phối hợp với Copegus (Ribavirin) có hiệu quả trong điều trị bệnh nhân viêm gan C mãn tính, bao gồm cả bệnh nhân xơ gan kèm bệnh gan còn bù và bệnh nhân HIV -HCV.
Thử nghiệm lâm sàng đã được xác nhận
Trong các thử nghiệm lâm sàng, những người đã chọn những bệnh nhân chưa từng điều trị viêm gan C mãn tính đã được xác định bằng hàm lượng HCV RNA có thể phát hiện được trong huyết thanh, có sự gia tăng nồng độ ALT và được sinh thiết gan xác định viêm gan mạn tính. Trong nghiên cứu của NV15495, người ta chỉ chọn những bệnh nhân đã được chẩn đoán xơ gan (khoảng 80%) hoặc đang trong giai đoạn chuyển sang xơ gan (khoảng 20%). Các thử nghiệm lâm sàng ở những người không đáp ứng và tái phát cũng đang được tiến hành.
Về chế độ điều trị, thời gian điều trị và kết quả nghiên cứu, vui lòng xem bảng 2 và 3. Phản ứng của virus được định nghĩa là không phát hiện RNA HCV bằng Test COBAS AMPLICOR HCV, phiên bản 2.0 (giới hạn phát hiện 100 bản sao/ml, tương đương 50 đơn vị quốc tế/mL) và phản ứng bền vững được xác định khi mẫu âm tính khoảng 6 tháng sau khi kết thúc điều trị.
Việc kết hôn ở những bệnh nhân được điều trị kết hợp pegasys với Ribavirin, dựa trên kiểu gen và virus được tóm tắt trong Bảng 3. Kết quả nghiên cứu NV15942 đã cung cấp cơ sở hợp lý để thiết lập chế độ điều trị dựa trên kiểu gen cho bệnh nhân (xem Bảng 11).
Sự khác biệt giữa các chế độ điều trị nhìn chung không bị ảnh hưởng bởi virus hoặc sự hiện diện/hiện diện của bệnh xơ gan; Do đó, chế độ điều trị được khuyến nghị cho Kiểu gen 1, 2 hoặc 3 bất kể những đặc điểm ban đầu này.
Hiệu quả của Pegasys cao hơn Interferon Alfa - 2A còn được thể hiện ở đáp ứng mô học, ngay cả ở bệnh nhân xơ gan và bệnh nhân HIV -HCV.
Việc xem xét khả năng rút ngắn thời gian điều trị xuống còn 24 tuần đối với bệnh nhân có gen loại 1 và 4 được khảo sát dựa trên phản ứng nhanh chóng của virus ở những bệnh nhân đạt được phản ứng nhanh với virus ở tuần thứ 4 trong nghiên cứu NV15942 (xem Bảng 4).
Việc xem xét khả năng rút ngắn thời gian điều trị xuống còn 16 tuần ở bệnh nhân mang gen 2 hoặc 3 được khảo sát dựa trên phản ứng nhanh bền vững với virus ở những bệnh nhân có phản ứng nhanh với virus ở tuần thứ 4 trong nghiên cứu NV17317 (xem Bảng 5).
Trong nghiên cứu NV17317 ở bệnh nhân nhiễm virus gen 2 hoặc 3, tất cả bệnh nhân sử dụng Pegasys 180 mcg tiêm dưới da mỗi tuần một lần và liều Ribavirin 800 mg và được lấy ngẫu nhiên trong nhóm điều trị 16 hoặc 24 tuần. Nhìn chung, phác đồ điều trị 16 tuần không cho kết quả tương đương với phác đồ 24 tuần (xem Bảng 5).
Điều trị 16 tuần để có tỷ lệ đáp ứng virus bền vững thấp hơn (65%) so với phác đồ 24 tuần (76%). Tuy nhiên, một nghiên cứu hồi phục ở những bệnh nhân đạt huy chương vàng RNA âm tính ở tuần thứ 4 và có nồng độ virus (LVL) thấp trước khi điều trị cho thấy đáp ứng nhanh chóng ở chế độ điều trị 16 tuần tương đương với điều trị 24 tuần (theo thứ tự 89% và 94%) (xem Bảng 5).
Bệnh nhân viêm gan C không đáp ứng với điều trị trước đó
Trong nghiên cứu MV17150, các bệnh nhân trước đó không đáp ứng với phác đồ Pegylat Interferon Alfa - 2B phối hợp với Ribavirin được dùng ngẫu nhiên ở 4 nhóm điều trị khác nhau: Pegasys 360 mcg/tuần trong 12 tuần, sau đó dùng 180 mcg/tuần trong 60 tuần tiếp theo; Pegasys 360 mcg/tuần trong 12 tuần, sau đó dùng 180 mcg/tuần trong 36 tuần tiếp theo; Pegasys 180 mcg/tuần x 72 tuần; hoặc Pegasys 180 mcg/tuần x 48 tuần. Tất cả bệnh nhân đều dùng Ribavirin (1000 hoặc 1200 mg/ngày) kết hợp với Pegasys. Tất cả các phác đồ đều có thời gian theo dõi 24 tuần. Tỷ lệ đáp ứng virus bền vững của một nhóm bệnh nhân so sánh thời gian điều trị hoặc liều lượng tấn công của Pegasys được tóm tắt trong Bảng 6.
Đáp ứng virus bền vững sau 72 tuần điều trị có kết quả vượt trội so với 48 tuần điều trị.
Tỷ lệ đáp ứng virus bền vững phụ thuộc vào thời gian điều trị và đặc điểm của bệnh nhân được phát hiện trong nghiên cứu MV17150 được trình bày trong Bảng 7.
Ở bệnh nhân Halt - c bị viêm gan C và bị xơ hóa hoặc xơ gan cao không đáp ứng với điều trị trước đó bằng cách sử dụng Interferon Alfa hoặc Pegylat Interferon Alfa phối hợp hoặc phối hợp với Ribavirin để điều trị bằng Pegasys 180 mcg/tuần và Ribavirin 1000/1200 mg mỗi ngày. Những bệnh nhân đạt huy chương vàng RNA ở mức độ phát hiện sau 20 tuần điều trị tiếp tục được sử dụng kết hợp pegasys với ribavirin trong 48 tuần và được theo dõi không dùng thuốc trong 24 tuần sau đó.
Phản ứng bền vững của virus phụ thuộc vào phác đồ điều trị trước đó. Kết quả điều trị thấp nhất ở những bệnh nhân không đáp ứng với phác đồ phối hợp Pegylat Interferon với Ribavirin, từ đó xác định nhóm bệnh nhân không đáp ứng khó điều trị nhất và tương đương với tỷ lệ đáp ứng virus bền vững ở các nhóm điều trị 48 tuần trong nghiên cứu MV17150. Mặc dù tỷ lệ đáp ứng bền vững cao hơn ở những bệnh nhân không đáp ứng với Interferon hoặc Pegylat Interferon được sử dụng trước đây nhưng hiệu quả điều trị ở những người điều trị dễ dàng hơn này vẫn thấp hơn đáng kể so với những người mới được điều trị lần đầu (xem Bảng 8).
Viêm gan C ở bệnh nhân tái phát sau điều trị
Trong một nghiên cứu trên hầu hết các bệnh nhân thuộc loại gen bị tái phát sau 48 tuần điều trị bằng Pegylat Interferon Alfa - 2 và Ribavirin, bệnh nhân được điều trị trong 72 tuần với Pegasys 180 mcg/tuần kết hợp với Ribavirin với liều lượng theo trọng lượng cơ thể hoặc phác đồ Interferon thông thường (9 mcG) hàng ngày kết hợp với liều dùng ribavirin theo cân nặng. Tỷ lệ đáp ứng bền vững đạt 42% ở bệnh nhân nhóm Pegasys kết hợp với Ribavirin trong 72 tuần.
Trong một nghiên cứu mở ở bệnh nhân viêm gan C kiểu gen 2 và 3 tái phát sau 24 tuần điều trị bằng Pegasys và Ribavirin, bệnh nhân được điều trị bằng Pegasys 180 mcg/tuần và Ribavirin 1000 hoặc 1200 mg (theo trọng lượng cơ thể) mỗi ngày trong 48 tuần và theo dõi không dùng thuốc trong 24 tuần. Tỷ lệ phản hồi bền vững là 64%.
Nhiễm HIV - HCV
Trong nghiên cứu NR15961, 860 bệnh nhân HIV -HIV -HCV được chọn ngẫu nhiên và điều trị bằng Pegasys 180 cmg/tuần và giả dược; Pegasys 180 mcg/tuần và Ribavirin 800 mg/ngày; hoặc Interferon Alfa - 2A 3miu ba lần mỗi tuần và Ribavirin 800 mg/ngày trong 48 tuần; Tiếp theo là theo dõi 24 tuần không điều trị. Phản ứng bền vững với virus trong ba nhóm điều trị được tóm tắt cho tất cả bệnh nhân và Kiểu gen được trình bày trong Bảng 9.
Cơ chế hoạt động
Trên in vitro, Pegasys có hoạt tính chống tăng sinh và kháng virus của Interferon Alfa - 2A. Interferon liên kết với các thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào, gây ra sự kích hoạt tín hiệu nội bào phức tạp và nhanh chóng kích hoạt quá trình sao chép gen. Các gen được kích hoạt bởi Interferon điều chỉnh nhiều tác dụng sinh học bao gồm ức chế sự sao chép của virus trong tế bào bị nhiễm bệnh, ức chế sự tăng sinh tế bào và điều hòa miễn dịch.
Nồng độ RNA HCV giảm hai giai đoạn ở bệnh nhân viêm gan C đáp ứng với điều trị bằng Pegasys. Giai đoạn đầu tiên xảy ra trong vòng 24 đến 36 giờ sau khi dùng liều Pegasys thứ nhất và thứ hai trong vòng 4 đến 16 tuần tiếp theo ở những bệnh nhân đạt được đáp ứng bền vững. So với interferon Alfa thông thường, Pegasys sử dụng với liều 180 mcg mỗi tuần giúp tăng khả năng thanh thải virus và cải thiện phản ứng của virus ở cuối giai đoạn điều trị.
Pegasys kích thích sản xuất các protein hoạt động như neopterin huyết thanh và 2′, 5′-oligoadenylate synthetase, tùy theo liều lượng. Sự kích thích 2′, 5′-oligoadenylate synthetase đạt tối đa sau khi dùng liều duy nhất từ 135 mcg đến 180 mcg pegasys; Và duy trì mức tối đa này trong suốt khoảng cách một tuần giữa hai liều. Mức độ và thời gian Pegasys kích hoạt 2′, 5′ - oligodenylate synthetase giảm ở đối tượng trên 62 tuổi và ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin từ 20 đến 40 ml/phút). Người ta vẫn chưa biết rõ về mối liên quan lâm sàng của những phát hiện này với các thông số dược động học của Pegasys.
Dược động học động
Dược động học của Pegasys được nghiên cứu ở những người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân nhiễm virus viêm gan C (xem Bảng 10). Kết quả ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính ở bệnh nhân viêm gan C mãn tính.
sự hấp thụ
Sự hấp thu của Pegasys được duy trì với đỉnh huyết tương đạt được sau khi sử dụng từ 72 đến 96 giờ. Nồng độ trong huyết thanh có thể được xác định trong vòng 3 đến 6 giờ sau khi tiêm với liều duy nhất 180 mcg pegasys. Trong vòng 24 giờ, đạt được khoảng 80% nồng độ đỉnh trong huyết thanh. Sinh khả dụng tuyệt đối của Pegasys là 84% và tương tự như interferon Alfa - 2A.
Phân phối
Ở người, Pegasys được tìm thấy chủ yếu trong máu và dịch ngoại bào với thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (VSS) khoảng 6-14 lít sau khi tiêm tĩnh mạch. Dựa trên các nghiên cứu trên chuột, người ta thấy rằng thuốc được phân phối đến gan, thận và tủy xương, cũng như tập trung vào máu.
Trao đổi chất
Chuyển hóa là cơ chế thanh thải chính của Pegasys. Dữ liệu trao đổi chất của Pegasys chưa được học đầy đủ. Ở người, độ thanh thải cơ thể của Pegasys khoảng 100 ml/giờ, thấp hơn 100 lần so với interferon Alfa - 2A tự nhiên. Các nghiên cứu trên chuột cho thấy các sản phẩm trao đổi chất của Pegasys được bài tiết qua nước tiểu và ít hơn qua mật. Có ít hơn 10% liều dùng được bài tiết dưới dạng Peginterferon Alfa - 2A không thay đổi. Khi phần PEG tiếp tục được liên kết với Interferon Alfa - 2A thì cả PEG và Interferon Alfa - 2A đều được chuyển hóa.
Loại bỏ
Sau khi sử dụng đường truyền tĩnh mạch, trên vật thể khỏe mạnh, thời gian lãng phí cuối cùng của Pegasys là khoảng 60 giờ. Đối với interferon thông thường, thời gian này là 3 đến 4 giờ. Thời gian lãng phí cuối cùng ở bệnh nhân sau khi tiêm dưới da dài hơn với giá trị trung bình là 160 giờ (từ 84 giờ đến 353 giờ). Thời gian lãng phí cuối cùng được xác định sau khi sử dụng dưới da không chỉ phản ánh giai đoạn đào thải của hợp chất mà còn phản ánh sự hấp thu kéo dài của Pegasys.
Vùng bên dưới đường cong biểu thị nồng độ thuốc theo thời gian (AUC) và nồng độ đỉnh CMAX tăng tỷ lệ thuận với liều quan sát được tìm thấy ở người khỏe mạnh và bệnh nhân bị viêm gan C mãn tính sau khi dùng Pegasys mỗi tuần một lần. Các thông số dược động học của PEGASYS ở những đối tượng khỏe mạnh được tiêm theo liều duy nhất Pegasys 180 mcg; Và ở những bệnh nhân viêm gan C mãn tính được điều trị bằng Pegasys 180 mcg mỗi tuần một lần trong 48 tuần; Presented in Table 10.
Ở bệnh nhân viêm gan C mạn tính, nồng độ trong huyết thanh ổn định khi dùng một liều một tuần cao gấp 2 đến 3 lần so với khi dùng một liều duy nhất và đạt trạng thái ổn định trong vòng 5 đến 8 tuần. Khi đã đạt được trạng thái ổn định, Peginterferon Alfa - 2A sẽ không tích lũy. Tỷ lệ giữa nồng độ đỉnh và nồng độ thấp nhất sau 48 tuần điều trị là khoảng 1,5: 2. Nồng độ trong huyết thanh của Peginterferon Alfa - 2A được duy trì trong 1 tuần (168 giờ).
dược động học và năng lượng dược động học ở các môn chuyên biệt
Bệnh nhân suy thận
Không có mối liên quan đáng kể giữa dược động học và độ thanh thải Creatinin của Pegasys 180 ở 23 người có chức năng thận từ bình thường đến suy thận nặng (độ thanh thải creatinin từ 20 đến >100 ml/phút). Ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối, lượng máu giảm, giảm từ 25% đến 45% và khi dùng liều 135 mcg tạo ra nồng độ tương tự như khi dùng liều 180 mcg ở người có chức năng thận bình thường. Bất kể liều khởi đầu hay mức độ suy thận, cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân và nếu phản ứng có hại thì phải giảm liều Pegasys 180 một cách thích hợp trong quá trình điều trị. Vui lòng tham khảo thông tin kê đơn của Ribavirin.
Giới tính
Dược động học của Pegasys 180 giữa nam và nữ khỏe mạnh là tương tự nhau.
Người lớn tuổi
Vùng bên dưới đường cong biểu thị nồng độ thuốc trung bình (AUC) tăng vừa phải ở người cao tuổi trên 62 tuổi, nhưng nồng độ đỉnh tương tự ở người cao tuổi và dưới 62 tuổi. Dựa vào nồng độ thuốc, đáp ứng dược lý và khả năng dung nạp, không cần sử dụng liều Pegasys ở mức khởi đầu thấp hơn đối với bệnh nhân lớn tuổi.
Bệnh nhân xơ gan và không xơ gan
Dược động học của Pegasys 180 tương tự ở người khỏe mạnh và bệnh nhân viêm gan B và viêm gan C mãn tính. Nồng độ và dữ liệu về dược động học giữa bệnh nhân xơ gan và bệnh gan bù và bệnh nhân không xơ gan.vị trí tiêm
Chỉ nên tiêm pegasys ở vùng dưới bụng và đùi. Nồng độ của Pegasys 180 giảm trong các nghiên cứu tiêm pegasys 180 ở cánh tay so với bụng và đùi.
Trước khi dùng Pegasys tiêm 180mcg/0,5ml Roche điều trị viêm gan B, viêm gan C mãn tính (0,5ml)
Cách sử dụng
Bất cứ khi nào sử dụng dung dịch hoặc lọ thuốc truyền dịch, phải quan sát bằng mắt để phát hiện tạp chất lạ hoặc sự đổi màu của thuốc trước khi sử dụng.
Khi sử dụng tại nhà, hãy đưa cho bệnh nhân một chiếc túi cứng để đựng ống tiêm và kim tiêm đã được sử dụng. Người bệnh nên hướng dẫn cẩn thận tầm quan trọng của việc hủy bỏ đúng cách và lưu ý không tái sử dụng ống tiêm và kim tiêm.
Liều dùng
viêm gan B mãn tính
Liều khuyến cáo của Pegasys 180 đối với bệnh viêm gan B mãn tính trong cả hai trường hợp HBeAg dương tính và âm tính là 180 mcg, mỗi tuần một lần, tiêm dưới bụng hoặc đùi. Thời gian điều trị được đề nghị là 48 tuần.Viêm gan C mãn tính
Liều khuyến cáo của Pegasys, dùng một lần hoặc phối hợp với Ribavirin, là 180 mcg mỗi tuần một lần, tiêm dưới bụng hoặc đùi. Ribavirin nên được sử dụng cùng với thức ăn. Thời gian sử dụng Pegasys 180 được khuyến nghị là 48 tuần.
Việc điều trị hàng ngày và liều lượng hàng ngày của Ribavirin phối hợp với Pegasys 180 được xác định theo kiểu gen (genotype) của virus.
Bệnh nhân bị nhiễm HCV loại gen có xét nghiệm RNA dương tính ở tuần thứ 4 cần áp dụng phác đồ điều trị 48 tuần bất kể số lượng virus trước khi điều trị. Phác đồ 24 tuần có thể được xem xét ở những bệnh nhân gen 1 có lượng virus thấp (Low Viral Load - LVL) (≤ 800.000 IU/mL) trước khi bắt đầu điều trị hoặc xét nghiệm RNA HCV âm tính kiểu gen 4 ở tuần thứ 4 và duy trì tình trạng RNA HCV âm tính ở tuần thứ 24.
Tuy nhiên, phác đồ điều trị 24 tuần có thể đi kèm với nguy cơ tái phát cao hơn so với phác đồ điều trị 48 tuần. Ở những bệnh nhân này, khả năng dung nạp phác đồ điều trị phối hợp và các yếu tố tiên lượng như mức độ xơ gan cần được xem xét khi quyết định thời gian điều trị. Cần cân nhắc kỹ hơn khi quyết định rút ngắn thời gian điều trị ở bệnh nhân nhiễm virus gen 1 và có số lượng virus cao trước điều trị (HVL) (> 800.000 IU/mL) khi xét nghiệm huy chương vàng RNA âm tính ở tuần thứ 4 và duy trì tình trạng đó cho đến tuần thứ 24 do số liệu còn hạn chế cho thấy có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng hiệu quả. sàng).
Bệnh nhân bị nhiễm kiểu gen 2 hoặc 3 xét nghiệm RNA hcv dương tính vào tuần thứ 4 nên được điều trị trong 24 tuần bất kể số lượng virus trước khi điều trị. Phác đồ điều trị 16 tuần có thể được lựa chọn ở một số bệnh nhân mang gen 2 hoặc 3 với số lượng virus trước điều trị thấp và xét nghiệm HCV RNA âm tính ở tuần thứ 4.
Tổng thời gian điều trị 16 tuần có thể liên quan đến nguy cơ tái phát cao hơn so với phác đồ điều trị 24 tuần. Ở những bệnh nhân này, khả năng dung nạp phác đồ điều trị phối hợp và các yếu tố tiên lượng như mức độ xơ gan cần được xem xét khi cân nhắc thay đổi phác đồ điều trị so với phác đồ chuẩn. Việc rút ngắn thời gian điều trị ở bệnh nhân gen 2 hoặc 3 có số lượng virus xét nghiệm RNA cao ở tuần thứ 4 cần được cân nhắc thận trọng hơn vì có thể gây ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng bền vững với virus.Các tài liệu hiện có về bệnh nhân nhiễm kiểu gen 5 hoặc 6 còn hạn chế; Vì vậy, cần sử dụng phác đồ phối hợp Ribavirin 1.000/1.200 mg trong 48 tuần.
Bảng 11. Liều khuyến cáo trong phác đồ dùng thuốc điều trị nội khoa HCV
Kiểu gen
PEGASYS liều 180
Liều ribavirin
Thời gian điều trị
180 microgam
24 tuần hoặc 48 tuần.
48 tuần. 180 microgam 48 tuần.
180 microgam 24 tuần hoặc 48 tuần. 180 microgam 48 tuần. 180 microgam 800 mg 16 tuần hoặc 24 tuần. 180 microgam 800 mg 24 tuần. 180mcg 800 mg 24 tuần. ** RVR = Phản ứng virus nhanh - Phản ứng virus nhanh (HCV âm tính) ở tuần thứ 4. lvl = 800.000 IU/ml. Viêm gan C mãn tính đã điều trị thất bại trước đó Liều khuyến cáo của Pegasys 180, monome đã qua sử dụng hoặc kết hợp với 800 mg Ribavirin, là 180 mcg tiêm dưới da mỗi tuần một lần trong 48 tuần, không phụ thuộc vào kiểu gen. Tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp điều trị Pegasys 180 phối hợp với Ribavirin sử dụng liều trên 800 mg/ngày; Hoặc thời gian điều trị dưới 48 tuần chưa được nghiên cứu. Khả năng dự đoán phản hồi và không phản hồi Gặp virus sớm ở tuần 12, được xác định bằng việc virus giảm hoặc không phát hiện nồng độ RNA HCV, cho thấy có thể dự đoán khả năng đáp ứng lâu dài (xem Bảng 12). Bảng 12. Dự đoán khả năng đáp ứng với virus ở tuần thứ 12 với liều điều trị phối hợp pegasys được khuyến nghị ở bệnh nhân HCV. Kiểu gen phủ định tích cực Không có phản hồi lâu dài Giá trị dự đoán Phản hồi tuần 12 Phản hồi lâu dài Giá trị dự đoán Kiểu gen 1 (N = 569) 102 97 95% (97/102) 467 271 58% (271/467) Kiểu gen 2 và 3 (n = 96) 3 3 100% (3/3) 93 81 Khả năng dự đoán đáp ứng và không đáp ứng ở những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị trước đó Ở những bệnh nhân trước đây không đáp ứng hiện đang điều trị theo phác đồ 72 tuần, yếu tố tiên lượng tốt nhất là khả năng ức chế virus ở tuần thứ 12 (không có huy chương vàng RNA - xác định khi HCV RNA Hướng dẫn liều lượng đặc biệt Điều chỉnh liều lượng cho Pegasys 180 Tổng quát: Khi cần điều chỉnh liều do phản ứng ngoại tình từ trung bình đến nặng (xét nghiệm lâm sàng và/hoặc cận lâm sàng), việc giảm liều lúc đầu xuống 135 mcg nói chung là thích hợp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cần giảm liều xuống 90 mcg hoặc 45 mcg. Có thể cân nhắc tăng liều về liều ban đầu khi các phản ứng phụ đã giảm. Huyết học: Nên giảm liều nếu số lượng bệnh bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) dưới 750 tế bào/mm3. Đối với bệnh nhân có giá trị ANC dưới 500 tế bào/mm3, nên ngừng điều trị cho đến khi giá trị ANC trở về trên 1.000 tế bào/mm3. Việc điều trị bằng Pegasys 180 nên bắt đầu với liều 90 mcg và cần theo dõi bệnh bạch cầu trung tính. Nên giảm liều xuống 90 mcg nếu số lượng tiểu cầu dưới 50.000 tế bào/mm3. Phải ngừng điều trị nếu số lượng tiểu cầu giảm xuống dưới 25.000 tế bào/mm3. Chức năng gan: Sự thay đổi bất thường trong xét nghiệm chức năng gan thường gặp ở bệnh nhân viêm gan mạn tính. Tuy nhiên, giống như các loại thuốc interferon alfa khác, người ta nhận thấy khi điều trị bằng Pegasys 180 có sự gia tăng nồng độ ALT ban đầu ở bệnh nhân, kể cả những bệnh nhân có đáp ứng với virus. Đối với bệnh nhân nhiễm HCV, nên bắt đầu giảm liều xuống còn 135 mcg khi có sự gia tăng nồng độ ALT so với giá trị ban đầu. Khi nồng độ ALT tăng liên tục, dù có giảm liều, hoặc khi nồng độ alt tăng cùng với bilirubin, hoặc có dấu hiệu suy gan thì nên ngừng điều trị. Đối với bệnh nhân HBV, nồng độ ALT tăng thoáng qua, đôi khi vượt quá 10 lần giới hạn trên của giá trị bình thường, không hiếm gặp và điều này có thể phản ánh mức độ suy giảm miễn dịch. Nên cân nhắc khi tiếp tục điều trị và phải theo dõi chức năng gan thường xuyên trong thời kỳ ALT tăng cao. Nếu sau khi giảm liều hoặc ngừng Pegasys 180 và nồng độ alt giảm thì có thể lặp lại việc điều trị. Điều chỉnh liều ribavirin trong liệu pháp phối hợp Để kiểm soát việc điều trị, nên giảm liều Ribavirin xuống còn 600 mg mỗi ngày (200 mg vào buổi sáng và 400 mg vào buổi tối) nếu xảy ra một trong hai trường hợp sau: Hướng dẫn sử dụng liều lượng cho các đối tượng đặc biệt: xem mục dùng cho trẻ em, mục dùng cho người già, bệnh nhân suy thận và bệnh nhân suy gan. Lưu ý: Liều lượng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều lượng cụ thể tùy thuộc vào tình trạng và mức độ tiến triển của bệnh. Để có liều lượng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế. Phải làm gì khi dùng quá liều? Không ai trong số những bệnh nhân này gặp phải các biến cố bất thường, nghiêm trọng hoặc hạn chế. Liều hàng tuần lên tới 540 mcg và 630 mcg đã được sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng Ung thư tế bào thận và bệnh bạch cầu tế bào mãn tính, theo ý nghĩa tương ứng. Độc tính gây ra giới hạn liều bao gồm mệt mỏi, tăng men gan, bệnh bạch cầu bạch cầu trung tính và tiểu cầu luôn thường gặp khi điều trị bằng interferon. Không có trường hợp quá liều ribavirin nào được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Vui lòng tham khảo thông tin đơn thuốc của Ribavirin. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay đến trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm y tế địa phương gần nhất.Quên một liều thuốc thì phải làm sao? Tuy nhiên, nếu gần đến liều tiếp theo thì bỏ qua liều đã quên và uống liều tiếp theo vào thời điểm đã định. Không uống hai lần theo quy định.
Phản ứng phụ
Khi sử dụng Pegasys, bạn có thể gặp phải những tác dụng không mong muốn (ADR).
bầm tím, đau, đỏ, sưng hoặc kích thích tại chỗ tiêm, đau dạ dày, nôn mửa, ợ nóng, thay đổi vị giác, khô miệng, chán ăn, sụt cân, tiêu chảy, da khô hoặc ngứa, rụng tóc, khó ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ, khó tập trung hoặc ghi nhớ, đổ mồ hôi, chóng mặt. Nhìn mờ, thay đổi thị lực hoặc mất thị lực, da nhợt nhạt, nhịp tim nhanh, đau thắt lưng, phát ban, nổi mề đay, sưng mặt, họng, lưỡi, môi, mắt, tay, chân, mắt cá chân hoặc cẳng chân, khó nuốt, khàn giọng. Thuốc có thể gây ra các tác dụng phụ khác.
Các phản ứng bất lợi được ghi nhận từ interferon alfa khác, được sử dụng hoặc phối hợp với Ribavirin, cũng có thể được quan sát thấy khi sử dụng Pegasys 180 đơn lẻ hoặc phối hợp Pegasys 180/Ribavirin.
Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng
Tần suất và mức độ nghiêm trọng của các phản ứng phụ thường gặp nhất ở bệnh nhân điều trị bằng Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin tương tự như bệnh nhân điều trị bằng interferon alfa hoặc interferon alfa/ribavirin.
Hầu hết các phản ứng phụ thường gặp nhất khi sử dụng Pegasys 180 và Pegasys 180/Ribavirin đều ở mức độ nhẹ đến trung bình và có thể kiểm soát được mà không cần điều chỉnh liều lượng hay ngừng điều trị.
Viêm gan B mãn tính
Trong 48 tuần thử nghiệm lâm sàng và 24 tuần theo dõi, độ an toàn của Pegasys 180 ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính tương tự như độ an toàn ở bệnh viêm gan C mãn tính, mặc dù tần suất tác dụng phụ được báo cáo ít hơn đáng kể ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính (xem Bảng 3).
Trong các nghiên cứu, 88% bệnh nhân điều trị bằng Pegasys 180 gặp tác dụng phụ, so với 53% bệnh nhân trong nhóm so sánh được điều trị bằng Lamivudine; 6% bệnh nhân trong nhóm được điều trị bằng Pegasys 180 và 4% bệnh nhân trong nhóm điều trị bằng Lamivudine gặp các tác dụng phụ nghiêm trọng. 5% bệnh nhân phải ngừng điều trị Pegasys 180 do tác dụng phụ hoặc kết quả xét nghiệm bất thường, trong khi chưa đến 1% bệnh nhân phải ngừng lamivudine vì lý do an toàn. Tỷ lệ ngừng thuốc ở bệnh nhân xơ gan tương đương với tỷ lệ tất cả bệnh nhân ở mỗi nhóm điều trị. Dùng chung với lamivudine không ảnh hưởng đến độ an toàn của Pegasys 180.
Viêm gan C mãn tính
Trong các thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ ngừng điều trị ở tất cả bệnh nhân do tác dụng phụ và xét nghiệm là 9% khi điều trị bằng Pegasys 180 đơn độc và 13% khi điều trị bằng Pegasys 180 phối hợp với Ribavirin 1000/1200 mg trong 48 tuần. Chỉ 1% hoặc 3% bệnh nhân buộc phải ngừng điều trị bằng Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin ở mức thích hợp tương ứng, vì những bất thường trong xét nghiệm.
Tỷ lệ ngừng thuốc ở bệnh nhân xơ gan cũng tương tự như tất cả các bệnh nhân khác. So với phác đồ điều trị 48 tuần với Pegasys 180 và Ribavirin 1000/1200 mg, phác đồ điều trị 24 tuần với liều Ribavirin hàng ngày là 800 mg, giảm các tác dụng phụ nghiêm trọng (11% so với 3%), giảm tỷ lệ dừng thuốc sớm vì lý do an toàn (13% so với 5%) và giảm nhu cầu điều chỉnh liều Ribavirin (39% so với 19%).
viêm gan C không đáp ứng với điều trị trước đó
Trong một nghiên cứu lâm sàng ở tuần thứ 72 và 48 đối với những bệnh nhân không đáp ứng với Pegylat Interferon Alfa - 2B phối hợp với Ribavirin, tỷ lệ điều trị do Pegasys 180 là 12% và Ribavirin là 13% do tác dụng phụ hoặc xét nghiệm có kết quả bất thường, trong 72 tuần điều trị. Với nhóm điều trị 48 tuần, 6% ngừng điều trị Pegasys 180 và 7% ngừng điều trị Ribavirin. Tương tự, đối với bệnh nhân xơ gan, tỷ lệ ngừng điều trị bằng Pegasys 180 và Ribavirin ở nhóm 72 tuần cao hơn (13% và 15%) so với 48 tuần (6% và 6%). Những bệnh nhân đã ngừng điều trị trước đó do độc tính trên máu được loại trừ không tham gia vào nghiên cứu này.
Trong một nghiên cứu lâm sàng khác, bệnh nhân bị xơ hóa hoặc xơ gan cao (chỉ số Ishak Score từ 3-6) không đáp ứng với phương pháp điều trị trước đó được đưa vào nghiên cứu với số lượng tiểu cầu trước khi điều trị ở mức 50000/mm3 và điều trị trong 48 tuần. Do tỷ lệ xơ hóa/xơ hóa cao và số lượng tiểu cầu ở những bệnh nhân này thấp nên tần suất xét nghiệm huyết học bất thường trong 20 tuần đầu nghiên cứu như sau: Hemoglobin
Nhiễm HIV - HCV
Ở những bệnh nhân đồng nhiễm HIV -HCV, các tác dụng phụ lâm sàng được ghi nhận khi sử dụng đơn phân Pegasys 180 hoặc phối hợp với Ribavirin, tương tự như những gì được quan sát thấy ở những bệnh nhân nhiễm HCV. Chỉ có rất ít dữ liệu về độ an toàn (n = 51) ở những bệnh nhân đồng nhiễm với số lượng tế bào CD4+
Trong nghiên cứu của NR15961, tỷ lệ ngừng điều trị đối với các tác dụng phụ, xét nghiệm hoặc trường hợp lâm sàng được xác định là AIDS là 16% trong trường hợp sử dụng Pegasys 180 đơn độc và 15% trong trường hợp điều trị phối hợp Pegasys 180 với Ribavirin 800 mg trong 48 tuần. 4% bệnh nhân phải ngừng Pegasys 180 và 3% bệnh nhân phải ngừng Pegasys 180/Ribavirin vì những bất thường trong xét nghiệm.
Trong điều trị phối hợp ở bệnh nhân đồng nhiễm, 39% trường hợp cần điều chỉnh liều pegasys 180 và 37% trường hợp cần điều chỉnh liều ribavirin. Các tác dụng phụ nghiêm trọng được báo cáo ở mức 21% và 17% bệnh nhân sử dụng đơn phân Pegasys 180 hoặc kết hợp với Ribavirin, theo nghĩa tương ứng.
Liệu pháp điều trị bằng Pegasys 180 làm giảm số lượng tế bào CD4+ tuyệt đối mà không làm giảm tỷ lệ tế bào CD4+ trong thời gian điều trị. Chỉ số đếm tế bào CD4+ trở về giá trị ban đầu trong giai đoạn nghiên cứu của nghiên cứu. Liệu pháp điều trị Pegasys 180 có tác động rõ rệt đến việc kiểm soát virus HIV trong máu trong quá trình điều trị và trong quá trình theo dõi.
Bảng 13 cho thấy phản ứng bất lợi xảy ra ≥ 10% số bệnh nhân sử dụng pegasys, pegasys kết hợp với ribavirin, hoặc interferon alfa - 2b kết hợp với ribavirin trong các chỉ định khác nhau.
Các phản ứng bất lợi được báo cáo ≥ 1% nhưng
Rối loạn hệ thống máu và hạch: hạch, thiếu máu, giảm tiểu cầu. Rối loạn nội tiết: Cường giáp, cường giáp. Rối loạn về mắt: mờ mắt, khô mắt, nhiễm trùng mắt, đau mắt. Rối loạn tai và tai trong: chóng mặt, đau tai. Rối loạn tim mạch: Xoa ngực, phù ngoại biên, nhịp tim nhanh. Rối loạn máu: Đỏ bừng. Rối loạn trung thất, ngực và hô hấp: đau họng, viêm mũi, viêm mũi họng, nghẹt xoang, khó thở khi gắng sức, chảy máu cam. Rối loạn tiêu hóa: nôn mửa, khó tiêu, đầy hơi, khô miệng, loét miệng, chảy máu, viêm miệng, nuốt khó, lưỡi. Rối loạn da và da dưới da: Rối loạn da, ban, chàm, vảy nến, mày đay, nhạy cảm với ánh sáng, tăng tiết mồ hôi, đổ mồ hôi ban đêm. Rối loạn xương, tổ chức liên kết, cơ xương: Đau xương, đau lưng, đau cổ, chuột rút, yếu cơ, đau cơ, viêm khớp. Các phản ứng bất lợi được ghi nhận ≥ 1% đến 2% ở bệnh nhân HIV -HIV - HCV dùng kết hợp Pegasys 180/Ribavirin bao gồm: nhiễm axit lactic/axit lactic tăng lactic, cúm, viêm phổi, dễ xúc động, chảy nước mắt, đau họng, viêm thanh quản, son môi, loạn sản lipid. Cũng như các phương pháp điều trị khác bằng interferon alfa, các biến cố nghiêm trọng hoặc hiếm gặp sau đây đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng Pegasys 180 monome hoặc phối hợp Pegasys 180/Ribavirin trong các thử nghiệm lâm sàng: nhiễm trùng đường hô hấp dưới, nhiễm trùng da, nhiễm trùng tai ngoài, viêm màng ngoài tim, quá liều, rối loạn gan, dấu vết ác tính ở gan, loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, viêm tụy, rối loạn nhịp tim, rung nhĩ, viêm màng ngoài tim, hiện tượng tự miễn dịch (ví dụ xuất huyết tiểu cầu tự phát, viêm tuyến giáp, vẩy nến, viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ cơ thể), viêm cơ, viêm dây thần kinh ngoại biên, bệnh Sacoid, viêm phổi kẽ đe dọa tính mạng, tắc phổi, tắc nghẽn giác mạc, tắc giác mạc, nhiễm trùng chân dung. Interferon Alfa, bao gồm cả Pegasys 180, khi dùng kết hợp với Ribavirin, có thể làm giảm tình trạng xuất huyết toàn bộ và hiếm khi gây thiếu máu đường hàng không. Những bất thường của xét nghiệm cận lâm sàng Khi sử dụng liệu pháp phối hợp huy chương, vui lòng tham khảo thông tin đơn thuốc của Ribavirin để nắm bắt tác dụng của ribavirin đối với các thông số xét nghiệm. Huyết học: Giống như các interferon khác, điều trị bằng Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin làm giảm các giá trị huyết học, thường được cải thiện khi điều chỉnh liều và các giá trị này sẽ trở về mức trước khi điều trị trong vòng 4 đến 8 tuần sau khi ngừng điều trị. Mặc dù các vấn đề về huyết học như giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và thiếu máu xảy ra thường xuyên hơn ở các huy chương HIV -HC -HC, nhưng hầu hết các độc tính này có thể được kiểm soát bằng cách điều chỉnh liều lượng và sử dụng các yếu tố tăng trưởng và hiếm khi ngừng điều trị. Huyết sắc tố và hematocrit: Mặc dù sử dụng Pegasys 180 monome giảm chậm lượng nhỏ hemoglobin và hematocrit, chưa đến 1% huy chương, kể cả bệnh nhân xơ gan, cần phải điều chỉnh liều do thiếu máu. Khoảng 10% huy chương được sử dụng trong 48 tuần điều trị bằng Pegasys 180/Ribavirin 1000/1200 mg cần giảm liều do thiếu máu. Thiếu máu (hemoglobin Bạch cầu: Việc điều trị bằng Pegasys 180 có liên quan đến việc giảm cả số lượng bạch cầu toàn phần (WBC) và số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC). Khoảng 4% bệnh nhân HBV hoặc HCV được điều trị bằng Pegasys 180 và 5% bệnh nhân huy chương được điều trị bằng Pegasys 180/Ribavirin, lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối giảm xuống dưới 500 tế bào/mm3 tại một thời điểm nào đó trong quá trình điều trị. Ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV -HCV, 13% và 11% bệnh nhân sử dụng Pegasys 180 và phối hợp với ANC giảm dưới 500 tế bào/mm3, ở mức thích hợp tương ứng. Số lượng tiểu cầu: Điều trị bằng Pegasys 180 có liên quan đến việc giảm giá trị số lượng tiểu cầu. Trong các thử nghiệm lâm sàng, khoảng 5% bệnh nhân huy chương có số lượng tiểu cầu giảm dưới 50.000 tế bào/mm3, phần lớn là bệnh nhân xơ gan và bệnh nhân khi bắt đầu nghiên cứu có số lượng tiểu cầu thấp khoảng 75.000 tế bào/mm3. Trong các thử nghiệm lâm sàng về viêm gan B, 14% bệnh nhân có số lượng tiểu cầu giảm dưới 50.000/mm3, phần lớn là những bệnh nhân ở giai đoạn đầu nghiên cứu có số lượng tiểu cầu thấp. Ở bệnh nhân nhiễm HIV - HCV, 10% và 8% bệnh nhân sử dụng đơn phân Pegasys 180 và phối hợp phối hợp có lượng tiểu cầu giảm xuống dưới 50.000/mm3, ở mức thích hợp tương ứng. chức năng tuyến giáp: Việc điều trị bằng Pegasys 180 có liên quan đến những bất thường lâm sàng đáng kể về xét nghiệm tuyến giáp, cần phải can thiệp lâm sàng. Tần suất quan sát khi điều trị bằng Pegasys 180 tương tự như điều trị bằng các interferon khác. triglycerid: Tăng triglycerid ở bệnh nhân điều trị bằng Interferon Alfa, bao gồm Pegasys 180. Kháng thể interferon: 3% bệnh nhân HCV (25/835) sử dụng Pegasys 180 có hoặc không có Ribavirin với kháng thể trung hòa hàm lượng kháng thuốc thấp. Ý nghĩa bệnh lý và lâm sàng của sự xuất hiện của kháng thể trung hòa trong huyết thanh vẫn chưa được biết đến. Không có mối tương quan rõ ràng giữa sự xuất hiện của kháng thể và phản ứng lâm sàng hoặc tác dụng phụ. Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn khi sử dụng thuốc. Hướng dẫn cách xử lý ADR Ngừng sử dụng thuốc. Với những phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp nhạy cảm nặng hoặc dị ứng cần điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và sử dụng epinephrin, thở oxy, kháng histamine, corticoid...). Khi gặp tác dụng phụ của thuốc cần ngừng sử dụng và thông báo cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị kịp thời.
Cảnh báo
Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
chống chỉ định
Thuốc Pegasys chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Chống chỉ định điều trị ban đầu bằng Pegasys 180 cho bệnh nhân nhiễm HIV -HIV -HCV bệnh nhân xơ gan và Child - PUGH ≥ 6. trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 3 tuổi. Vui lòng tham khảo thông tin kê đơn của Ribavirin khi sử dụng Pegasys 180 kết hợp với Ribavirin. Phác đồ Pegasys đơn hoặc Pegasys 180 với Ribavirin nên được tiến hành dưới sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Việc điều trị có thể gây phản ứng phụ ở mức độ từ trung bình đến nặng, cần giảm liều, tạm thời hoặc không điều trị nữa. Vui lòng tham khảo thông tin kê đơn của Ribavirin về các tiêu chuẩn xét nghiệm khác. Điều trị bằng Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin làm giảm cả tổng số bạch cầu (WBC) và bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC), thường bắt đầu trong vòng 2 tuần đầu điều trị. Trong các nghiên cứu lâm sàng, số lượng tế bào này giảm liên tục hiếm khi xảy ra sau 4 đến 8 tuần điều trị. Nên giảm liều khi ANC giảm xuống dưới 750 tế bào/mm3. Đối với những bệnh nhân có giá trị ANC dưới 500 tế bào/mm3, nên tạm dừng điều trị cho đến khi giá trị ANC trở về trên 1.000 tế bào/mm3. Trong các thử nghiệm lâm sàng với Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin, tình trạng giảm ANC có thể được phục hồi sau khi giảm liều hoặc ngừng điều trị. Điều trị bằng Pegasys hoặc Pegasys 180/Ribavirin làm giảm số lượng tiểu cầu, số lượng này đã quay trở lại như trước khi điều trị trong giai đoạn theo dõi sau điều trị. Khuyến cáo giảm liều khi số lượng cầu giảm xuống dưới 50.000 tế bào/mm3 và phải ngừng điều trị khi số lượng tiểu cầu giảm xuống dưới 25.000 tế bào/mm3. Nhiễm trùng Mặc dù sốt kèm theo hội chứng cúm thường xuyên được báo cáo trong quá trình điều trị bằng interferon, nhưng cũng cần loại bỏ các nguyên nhân gây sốt dai dẳng khác, đặc biệt ở những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính. Các trường hợp nhiễm trùng nặng (do vi khuẩn, vi rút, nấm) cũng đã được báo cáo trong quá trình điều trị bằng interferon alfa, bao gồm cả Pegasys 180. Nên bắt đầu điều trị chống nhiễm trùng thích hợp ngay cho bệnh nhân và nên cân nhắc việc ngừng điều trị bằng interferon. Rối loạn tự động Tình trạng bệnh tự miễn nặng hơn đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng Interferon Alfa; Cần phải hết sức thận trọng khi điều trị Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin cho bệnh nhân bị rối loạn tự miễn dịch. sử dụng Interferon Alfa có thể gây ra hoặc làm cho bệnh vẩy nến nặng hơn. Nên thận trọng khi sử dụng Pegasys 180 đơn lẻ hoặc phối hợp Pegasys 180/Ribavirin cho bệnh nhân vảy nến. Trong trường hợp xuất hiện hoặc tiến triển các tổn thương bệnh vảy nến thì nên cân nhắc việc ngừng điều trị. Nội tiết Giống như các interferon khác, Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin có thể gây ra hoặc làm nặng thêm tình trạng khuyết tật tuyến giáp và tuyến giáp. Tăng đường huyết, hạ đường huyết và tiểu đường đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị bằng interferon alfa. Tinh thần Phản ứng ngoại tình về tinh thần định kỳ có thể xảy ra ở một số bệnh nhân được điều trị bằng Interferon, bao gồm Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin. Trầm cảm, ý tưởng tự sát, tự tử có thể xảy ra ở những bệnh nhân có hoặc không có bệnh tâm thần trước đó. Nên thận trọng khi điều trị bằng Pegasys 180 đơn lẻ hoặc phối hợp Pegasys 180/Ribavirin cho bệnh nhân có tiền sử trầm cảm, đồng thời bác sĩ phải theo dõi chặt chẽ tất cả bệnh nhân để phát hiện dấu hiệu trầm cảm. Trước khi bắt đầu điều trị bằng Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin cho bệnh nhân, bác sĩ cần thông báo cho bệnh nhân về khả năng bị trầm cảm và bệnh nhân phải báo ngay cho bác sĩ về bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng trầm cảm nào. Trường hợp nặng nên ngừng điều trị và cần áp dụng các biện pháp can thiệp tinh thần cho người bệnh. Khoa học Giống như các interferon khác, bệnh võng mạc bao gồm xuất huyết võng mạc, vùng thiếu máu cục bộ thứ phát của võng mạc, biểu hiện bằng các đốm trắng hoặc xám trên bề mặt võng mạc, gai gai, bệnh thần kinh thị giác, tĩnh mạch hoặc động mạch võng mạc có thể gây mất thị lực, điều này cũng đã được báo cáo sau khi điều trị bằng Pegasys 180. Tim mạch Thiếu máu ribavirin có thể làm cho bệnh tim trở nên nặng hơn, vì vậy bệnh nhân HCV có tiền sử bệnh tim đáng chú ý hoặc không ổn định trong sáu tháng trước đó không nên sử dụng Ribavirin. Các biến cố tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn nhịp thất, suy tim xuất huyết, đau ngực và nhồi máu cơ tim có thể xảy ra khi sử dụng Interferon Alfa, bao gồm Pegasys 180 và Pegasys 180/Ribavirin. Bệnh nhân có bất thường về tim mạch trước đó nên được đo điện tâm đồ trước khi điều trị. Nếu tình trạng tim mạch có diễn biến xấu cần phải tạm dừng hoặc ngừng điều trị. mẫn cảm Quá mẫn, phản ứng quá mẫn cấp tính (như mày đay, phù mạch, co thắt phế quản, sốc phản vệ) hiếm khi xảy ra khi điều trị bằng interferon alfa. Nếu phản ứng quá mẫn xảy ra trong quá trình điều trị bằng Pegasys 180 hoặc với Pegasys 180/Ribavirin, cần ngừng thuốc và tiến hành điều trị thích hợp ngay lập tức. Không cần ngừng thuốc nếu Đỏ Đỏ Đỏ Đỏ Phổi Cũng như các interferon alfa khác, các triệu chứng về phổi, bao gồm khó thở, thâm nhiễm phổi, viêm phổi, viêm phổi cục bộ, kể cả các trường hợp nặng đe dọa tính mạng, được báo cáo trong quá trình điều trị bằng Pegasys 180 đơn sắc hoặc phối hợp với Ribavirin. Nếu có dấu hiệu phổi bị nhiễm trùng, suy hô hấp không rõ nguyên nhân hoặc dai dẳng thì nên ngừng điều trị. Chức năng gan Ở những bệnh nhân có bằng chứng mất gan trong quá trình điều trị, nên ngừng Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin. HCV: Giống như các interferon alfa khác, nồng độ alt tăng lên trên mức ban đầu được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị hoặc với Pegasys 180 hoặc với Pegasys 180/Ribavirin, bao gồm cả những bệnh nhân có phản ứng với virus. Khi nồng độ ALT tăng liên tục mặc dù đã giảm liều hoặc khi nồng độ ALT tăng kèm theo bilirubin tăng thì nên ngừng điều trị. HBV: Không giống như HCV, tình trạng bệnh nặng trong quá trình điều trị là phổ biến và biểu hiện bằng sự gia tăng đáng kể và nồng độ ALT huyết thanh trong không khí. Trong các thử nghiệm lâm sàng với Pegasys 180 ở bệnh nhân nhiễm HBV, có sự gia tăng đáng kể về transaminase kèm theo những thay đổi nhỏ trong các tiêu chuẩn đánh giá chức năng gan khác; Và không có bằng chứng về việc mất gan. Trong khoảng một nửa số trường hợp men gan tăng vượt quá giới hạn trên của giá trị bình thường, cần giảm liều hoặc ngừng pegasys cho đến khi giảm mức tăng transaminase; Trong khi một nửa số trường hợp còn lại vẫn có thể tiếp tục dùng thuốc với liều lượng không đổi. Nên theo dõi chức năng gan thường xuyên hơn trong mọi trường hợp. Nhiễm HIV - HCV Bệnh nhân xơ gan tiến triển được điều trị đồng thời bằng Haart có thể tăng nguy cơ mất gan và có thể tử vong khi điều trị bằng Ribavirin kết hợp với Interferon Alfa, trong đó có Pegasys 180. Trong quá trình điều trị, nên theo dõi chặt chẽ bệnh nhân đồng nhiễm, định kỳ đánh giá tình trạng lâm sàng và chức năng gan của gan và nên ngừng điều trị ngay nếu gan được bù trừ (PUH - PUG Xét nghiệm cận lâm sàng Trước khi bắt đầu sử dụng Pegasys 180 đơn lẻ hoặc kết hợp Pegasys 180/Ribavirin, nên tiến hành các xét nghiệm sinh hóa và huyết học tiêu chuẩn cho tất cả bệnh nhân. Sau khi bắt đầu điều trị, nên tiến hành xét nghiệm huyết học sau 2 và 4 tuần; Và các xét nghiệm sinh hóa nên được thực hiện sau 4 tuần. Những xét nghiệm này nên được tiến hành định kỳ trong quá trình điều trị. Những bệnh nhân được sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng sử dụng Pegasys 180 được kết hợp hoặc kết hợp với Ribavirin có thể được coi là một quy tắc để xác định các giá trị ban đầu có thể được chấp nhận khi bắt đầu quá trình điều trị: dùng trong các chủ đề đặc biệt Sử dụng ở trẻ em Tính an toàn và hiệu quả của thuốc chưa được xác định ở bệnh nhân dưới 18 tuổi. Ngoài ra, dung dịch tiêm Pegasys 180 có chứa cồn benzyl. Hiếm khi có báo cáo về tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ do tiếp xúc quá nhiều với rượu Benzyl. Người ta vẫn chưa biết lượng rượu Benzyl ở mức độ nào có khả năng gây độc hoặc gây tác hại cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Vì vậy không nên sử dụng Pegasys 180 cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Dùng ở người già Dựa trên dữ liệu về dược động học, dược lý, dung nạp và an toàn từ các thử nghiệm lâm sàng, không cần điều chỉnh liều Pegasys 180 cho bệnh nhân lớn tuổi. Bệnh nhân suy thận Ở những bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn cuối, liều khởi đầu của Pegasys 180 nên là 135 mcg mỗi tuần một lần. Bất kể liều khởi đầu hay mức độ suy thận, bệnh nhân cũng cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị và nên giảm liều Pegasys 180 tương ứng nếu các phản ứng có vẻ nguy hiểm. Vui lòng tham khảo thông tin kê đơn của Ribavirin về cách sử dụng Ribavirin cho bệnh nhân suy thận. Bệnh nhân suy gan Pegasys 180 được chứng minh là có hiệu quả và an toàn ở những bệnh nhân xơ gan còn bù (ví dụ Child Pugh A). Pegasys 180 chưa được nghiên cứu khi sử dụng cho bệnh nhân xơ gan không tổn thương (ví dụ Child Pugh B/C hoặc giãn tĩnh mạch xuất huyết). Phân loại Child - Pugh chia bệnh nhân thành các nhóm A, B và C hoặc “nhẹ”, “trung bình” và “nặng” theo các điểm lần lượt là 5 - 6, 7 - 9 và 10 - 15. Đánh giá mức độ bất thường Điểm Bệnh lý não Không 1 2 3 cổ trướng Không 1 2 3 1 2 3 1 2 3 3.5 1 2 3 1 2 3 không nên dùng Pegasys 180 cho phụ nữ có thai. Tác động của Pegasys 180 lên khả năng sinh sản chưa được nghiên cứu. Giống như các Interferon Alfa khác, người ta quan sát thấy chu kỳ kinh nguyệt kéo dài thời gian giảm và kéo dài thời gian đạt nồng độ đỉnh điểm của 17α estradiol và progesterone sau khi sử dụng Pegasys 180 cho khỉ cái. Chu kỳ kinh nguyệt trở lại bình thường sau khi ngừng điều trị. Chưa có nghiên cứu nào về tác động của Pegasys 180 đến khả năng sinh sản ở nam giới. Tuy nhiên, điều trị bằng Interferon Alfa - 2A không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của khỉ Rhesus đực nên dùng trong 5 tháng với liều lên tới 25 x 106 IU/kg/ngày. Hiệu ứng quái vật của Pegasys 180 chưa được nghiên cứu. Điều trị bằng Interferon Alfa - 2A làm tăng khả năng gây sẩy thai có ý nghĩa thống kê ở khỉ Rhesus. Không có tác dụng quái đản nào của thuốc đối với trẻ sơ sinh thế hệ mới đầy đủ hàng tháng. Tuy nhiên, cũng như các interferon alfa khác, phụ nữ có khả năng mang thai nên sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị bằng Pegasys 180. Sử dụng Ribavirin đã ghi nhận tác động gây chết phôi và/hoặc tác động quái ác đáng kể ở tất cả các loài sử dụng ribavirin. Chống chỉ định sử dụng liệu pháp Ribavirin cho phụ nữ mang thai và chồng/bạn tình. Bệnh nhân nữ hoặc vợ/tình nhân của bệnh nhân nam đang sử dụng Ribavirin cần hết sức thận trọng, tránh mang thai trong thời gian này. Bất kỳ phương pháp tránh thai nào cũng có khả năng thất bại. Vì vậy, điều hết sức quan trọng là phụ nữ có khả năng mang thai và chồng/bạn tình phải sử dụng 2 biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị và trong vòng 6 tháng sau khi điều trị. Vui lòng tham khảo thông tin kê đơn của Ribavirin khi sử dụng Pegasys 180 kết hợp với Ribavirin. Người ta không biết liệu Pegasys 180 và/hoặc Ribavirin có được tiết qua sữa mẹ hay không. Vì có nhiều thuốc bài tiết qua sữa mẹ và để tránh nguy cơ gây phản ứng nặng của Pegasys 180 hoặc Ribavirin khi cho con bú, phải quyết định ngừng điều trị hoặc ngừng cho con bú, tùy theo mức độ quan trọng của việc điều trị của người mẹ. không ghi nhận tương tác dược động học giữa Pegasys 180 và Ribavirin trong các thử nghiệm lâm sàng lâm sàng sử dụng Pegasys 180 kết hợp với Ribavirin. Tương tự, Lamivudine không ảnh hưởng đến dược động học của Pegasys 180 trong các thử nghiệm lâm sàng HBV sử dụng Pegasys 180 kết hợp với Lamivudine. Điều trị bằng Pegasys 180 mcg mỗi tuần một lần trong 4 tuần không ảnh hưởng đến các đặc tính dược động học của Tolbutamide (CYP 2C9), Mephenytoin (CYP 2C19), DEBRISOQUINE (CYP 2D6) và Dapsone (CYP 3A4) ở nam giới khỏe mạnh. Pegasys 180 là chất ức chế Cytochrome P450 1A2 ở mức độ vừa phải, vì trong cùng một nghiên cứu, đường cong dưới (AUC) của theophilline tăng 25%. Tác dụng so sánh đối với dược động học của theophilline đã được ghi nhận sau khi điều trị bằng interferon alfa thông thường. Interferon Alfa được xem là tác động lên quá trình chuyển hóa của một số loại thuốc do làm giảm hoạt động của cytochrome P450 ở gan mini. Nên theo dõi nồng độ theophyllline trong huyết thanh và điều chỉnh liều theophyllline phù hợp với bệnh nhân sử dụng kết hợp theophyllline với Pegasys 180 hoặc Pegasys 180/Ribavirin. Trong một nghiên cứu dược động học ở 24 huy chương sử dụng cùng lúc, liều duy trì (liều trung bình 95 mg; biến thiên từ 30 mg đến 150 mg), điều trị bằng Pegasys 180 liều 180 mcg tiêm dưới da mỗi tuần một lần trong 4 tuần đã làm cho nồng độ Methadone trung bình cao hơn ban đầu từ 10% đến 15%. Ý nghĩa lâm sàng của phát hiện này chưa được biết; Tuy nhiên, bệnh nhân cần được theo dõi để phát hiện các dấu hiệu và triệu chứng ngộ độc methadone. Không có bằng chứng về tương tác thuốc được ghi nhận ở 47 bệnh nhân HIV -HCV. Những người này đã hoàn thành nghiên cứu dược động học kéo dài 12 tuần để kiểm tra tác dụng của ribavirin đối với sự phosphoryl nội bào của một số chất ức chế men sao chép nucleoside (lamivudine, zidovudine hoặc stavudine). Nồng độ trong huyết tương của Ribavirin dường như không bị ảnh hưởng khi sử dụng cùng loại thuốc. Không sử dụng đồng thời ribavirin và Didanosine. Nồng độ Didanosine hoặc chất chuyển hóa chính của nó (Dideoxyadenosine 5′ - Triphosphate) tăng lên khi dùng Didanosine cùng với ribavirin. Các báo cáo về suy gan nặng, cũng như bệnh lý thần kinh ngoại biên, viêm tụy cấp và nhiễm axit lactic/axit lactic trong máu cũng được báo cáo khi sử dụng ribavirin. Thận trọng khi sử dụng
mang thai
thời kỳ cho con bú
Tương tác thuốc
Bảo quản
Bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 2-80C. Không đóng băng hoặc lắc. Bảo quản nguyên hộp tránh ánh sáng.
Hạn sử dụng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Không sử dụng thuốc quá hạn ghi trên bao bì.
Nhà sản xuất: F. Hoffmann-La Roche Ltd..
Các loại thuốc khác
- Ecalta
- Jakavi
- LIVAZO 4MG FILM-COATED TABLETS
- Relvar Ellipta
- RIFINAH 300 TABLETS
- UTROGESTAN 100MG CAPSULES
Tuyên bố từ chối trách nhiệm
Chúng tôi đã nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng thông tin do Drugslib.com cung cấp là chính xác, cập nhật -ngày và đầy đủ, nhưng không có đảm bảo nào được thực hiện cho hiệu ứng đó. Thông tin thuốc trong tài liệu này có thể nhạy cảm về thời gian. Thông tin về Drugslib.com đã được biên soạn để các bác sĩ chăm sóc sức khỏe và người tiêu dùng ở Hoa Kỳ sử dụng và do đó Drugslib.com không đảm bảo rằng việc sử dụng bên ngoài Hoa Kỳ là phù hợp, trừ khi có quy định cụ thể khác. Thông tin thuốc của Drugslib.com không xác nhận thuốc, chẩn đoán bệnh nhân hoặc đề xuất liệu pháp. Thông tin thuốc của Drugslib.com là nguồn thông tin được thiết kế để hỗ trợ các bác sĩ chăm sóc sức khỏe được cấp phép trong việc chăm sóc bệnh nhân của họ và/hoặc phục vụ người tiêu dùng xem dịch vụ này như một sự bổ sung chứ không phải thay thế cho chuyên môn, kỹ năng, kiến thức và đánh giá về chăm sóc sức khỏe các học viên.
Việc không có cảnh báo đối với một loại thuốc hoặc sự kết hợp thuốc nhất định không được hiểu là chỉ ra rằng loại thuốc hoặc sự kết hợp thuốc đó là an toàn, hiệu quả hoặc phù hợp với bất kỳ bệnh nhân nào. Drugslib.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bất kỳ khía cạnh nào của việc chăm sóc sức khỏe được quản lý với sự hỗ trợ của thông tin Drugslib.com cung cấp. Thông tin trong tài liệu này không nhằm mục đích bao gồm tất cả các công dụng, hướng dẫn, biện pháp phòng ngừa, cảnh báo, tương tác thuốc, phản ứng dị ứng hoặc tác dụng phụ có thể có. Nếu bạn có thắc mắc về loại thuốc bạn đang dùng, hãy hỏi bác sĩ, y tá hoặc dược sĩ.
Từ khóa phổ biến
- metformin obat apa
- alahan panjang
- glimepiride obat apa
- takikardia adalah
- erau ernie
- pradiabetes
- besar88
- atrofi adalah
- kutu anjing
- trakeostomi
- mayzent pi
- enbrel auto injector not working
- enbrel interactions
- lenvima life expectancy
- leqvio pi
- what is lenvima
- lenvima pi
- empagliflozin-linagliptin
- encourage foundation for enbrel
- qulipta drug interactions